11/08/2019 - Lượt xem: 90
Sau 02 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) và 04 năm thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17 tháng 4 năm 2015 của Bộ Chính trị về công tác sắp xếp tổ chức bộ máy của tỉnh Gia Lai đạt được một số kết quả.

Nhà liên cơ Gia Lai (nguồn GLO)

Nhìn lại thực trạng tổ chức bộ máy của cơ quan, đơn vị, địa phương tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017 (trước khi Trung ương ban hành Nghị quyết 18-NQ/TW) và tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2019 (sau 02 năm thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW), các tổ chức hành chính, số lượng cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của cấp ủy cấp tỉnh tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017 là 06 cơ quan với 30 đầu mối trực thuộc; tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2019 là 06 cơ quan với 24 đầu mối trực thuộc. Số lượng cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của cấp ủy cấp huyện tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017 là 93 cơ quan; tại thời điểm 30 tháng 6 năm 2019 là 89 cơ quan. Số lượng các ban Hội đồng nhân dân tỉnh tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017 và ngày 30 tháng 6 năm 2019 là 05 ban (đã bao gồm cả Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh); Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh có 02 đầu mối là Phòng Tổng hợp, Phòng Hành chính - Tổ chức - Quản trị. Hội đồng nhân dân ở cấp huyện có 03 ban (ban pháp chế, ban kinh tế - xã hội, ban dân tộc) theo đúng quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Về tổ chức hành chính nhà nước khác ở cấp tỉnh: Hiện nay, ở tỉnh có Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, có cơ cấu tổ chức gồm 05 phòng chuyên môn nghiệp vụ và 01 đơn vị sự nghiệp công lập. Số lượng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017 là 06 cơ quan với 32 đầu mối trực thuộc; tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2019 là 06 cơ quan với 28 đầu mối trực thuộc. Số lượng ủy ban mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội cấp huyện tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017 là 104 cơ quan, tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2019 là 103 cơ quan (gồm cả Đoàn Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh).

Số đơn vị hành chính cấp huyện tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017 và ngày 30 tháng 6 năm 2019 là 17 đơn vị, trong đó có 01 thành phố, 02 thị xã, 14 huyện. Số đơn vị hành chính cấp xã là 222 đơn vị (gồm 184 xã, 24 phường, 14 thị trấn). Số thôn, làng, tổ dân phố tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017 là 2.160 (gồm: 1.776 thôn, làng, 384 tổ dân phố); số thôn, làng, tổ dân phố sau khi hợp nhất là 1.672 (trong quý II năm 2019 sẽ tiếp tục sắp xếp giảm 46 thôn, làng, tổ dân phố và quý IV năm 2019 sẽ tiếp tục sắp xếp giảm 50 thôn, làng, tổ dân phố). Số lượng tổ chức đảng cấp trên cơ sở tại thời điểm 30 tháng 6 năm 2017 là 22 tổ chức, tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2019 là 21 tổ chức. Số lượng tổ chức cơ sở đảng tại thời điểm cuối năm 2017 là 1.025 tổ chức, tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2019 là 985 tổ chức; số lượng đảng viên hiện nay là 58.420 đồng chí.

Các đơn vị sự nghiệp công lập, số lượng đơn vị sự nghiệp thuộc cấp ủy cấp tỉnh tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017 là 02 đơn vị với 13 đầu mối trực thuộc; tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2019 là 02 đơn vị với 11 đầu mối trực thuộc. Các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017 là 07 đơn vị (gồm 01 đơn vị giáo dục nghề nghiệp, 02 đơn vị nông nghiệp và phát triển nông thôn, 02 đơn vị văn hóa, thể dục thể thao, 02 đơn vị sự nghiệp khác); tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2019 là 06 đơn vị (gồm 01 đơn vị giáo dục nghề nghiệp, 02 đơn vị nông nghiệp và phát triển nông thôn, 01 đơn vị văn hóa, thể dục thể thao, 02 đơn vị sự nghiệp khác). Số lượng đơn vị sự nghiệp thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017 là 139 đơn vị (gồm 49 đơn vị giáo dục và đào tạo, 04 đơn vị giáo dục nghề nghiệp, 32 đơn vị y tế, 28 đơn vị nông nghiệp và phát triển nông thôn, 01 đơn vị thông tin và truyền thông, 06 đơn vị văn hóa, thể dục thể thao, 19 đơn vị sự nghiệp khác); tại thời điểm 30 tháng 6 năm 2019 là 131 đơn vị (gồm 49 đơn vị giáo dục và đào tạo, 04 đơn vị giáo dục nghề nghiệp, 27 đơn vị y tế, 26 đơn vị nông nghiệp và phát triển nông thôn, 01 đơn vị thông tin và truyền thông, 04 đơn vị văn hóa, thể dục thể thao, 18 đơn vị sự nghiệp khác). Số lượng đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017 và ngày 30 tháng 6 năm 2019 là 01 đơn vị. Số lượng đơn vị sự nghiệp trực thuộc chi cục thuộc cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017 là 37 và ngày 30 tháng 6 năm 2019 là 03 đơn vị (gồm 02 đơn vị khoa học và công nghệ, 01 đơn vị sự nghiệp khác).

Số lượng đơn vị sự nghiệp thuộc cấp ủy cấp huyện tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017 và ngày 30 tháng 6 năm 2019 là 17 đơn vị. Số lượng đơn vị sự nghiệp thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2017 là 842 đơn vị (gồm 758 đơn vị giáo dục và đào tạo, 16 đơn vị giáo dục nghề nghiệp, 17 đơn vị y tế, 16 đơn vị nông nghiệp và phát triển nông thôn, 18 đơn vị văn hóa, thể dục thể thao, 17 đơn vị sự nghiệp khác); tại thời điểm ngày 30 tháng 6 năm 2019 là 770 đơn vị (gồm 706 đơn vị giáo dục và đào tạo, 14 đơn vị giáo dục nghề nghiệp, 16 đơn vị nông nghiệp và phát triển nông thôn, 17 đơn vị văn hóa, thể dục thể thao, 17 đơn vị sự nghiệp khác).

Các ban quản lý dự án cấp tỉnh, cấp huyện: Căn cứ quy định của Luật Xây dựng năm 2014; Nghị định số 59/2015/NĐ-CP, ngày 18 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ quy định về dự án đầu tư xây dựng và Thông tư số 16/2016/TT-BXD, ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn hình thức tổ chức hoạt động của ban quản lý dự án đầu tư xây dựng, các ban quản lý dự án đầu tư xây dựng được tổ chức như sau: Cấp tỉnh: Hiện có 03 ban quản lý chuyên ngành, gồm: Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp; Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn; Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông.

Cấp huyện: 17 ban quản lý dự án đầu tư xây dựng (mỗi huyện, thị xã, thành phố tổ chức 01 ban quản lý). Địa phương không có tổ chức phối hợp liên ngành mà Nhà nước phải bố trí biên chế, kinh phí hoạt động thường xuyên từ ngân sách.

Kết quả sắp xếp sau khi triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, qua sắp xếp theo các quy định của Trung ương, của tỉnh, số cấp phó các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy giảm 03 phó trưởng ban, số lượng các đơn vị trực thuộc đã giảm được 06 phòng (tất cả các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy không còn văn phòng), số lãnh đạo các đơn vị trực thuộc giảm 18 người (gồm 06 trưởng phòng và 12 phó trưởng phòng).

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã có chủ trương để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Hội Nông dân tỉnh sắp xếp lại tổ chức bộ máy theo quy định của ngành cấp trên. Qua sắp xếp, giảm được 04 đầu mối, 01 phó chủ tịch hội cấp tỉnh và 08 lãnh đạo cấp phòng.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành quyết định chuyển giao bộ phận quản lý tài sản, tài chính, văn thư - lưu trữ, phục vụ của các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy về Văn phòng Tỉnh ủy quản lý để tổ chức phục vụ chung cho Thường trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy quyết định giải thể và chuyển giao nhiệm vụ một số ban chỉ đạo cấp tỉnh về cho các cơ quan chuyên môn thực hiện. Tất cả thành viên các ban chỉ đạo này đều là cán bộ các cơ quan chuyên trách kiêm nhiệm nên khi giải thể không giảm biên chế nào.

Ủy ban nhân dân tỉnh đang triển khai kiện toàn lại các ban quản lý dự án chuyên ngành trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý, ban quản lý dự án khu vực thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý; thực hiện nghiêm các ban quản lý dự án đầu tư xây dựng phải tự bảo đảm hoàn toàn kinh phí chi thường xuyên; không bố trí biên chế nhà nước nhưng phải điều động, bố trí công chức, viên chức trong biên chế sang giữ chức vụ đứng đầu ban quản lý và hưởng lương từ nguồn kinh phí quản lý dự án. Sắp đến sẽ sáp nhập Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình phát triển nông thôn vào Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông thuộc tỉnh quản lý; ở cấp huyện duy trì mỗi huyện chỉ có một ban quản lý dự án khu vực.

Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập, vận hành hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công từ năm 2018. Theo đó, Trung tâm được bố trí 06 quầy cho tổng số 20 sở, ban, ngành thuộc tỉnh tham gia với 20 công chức, viên chức chính thức và 22 công chức, viên chức không chuyên trách. Bước đầu thực hiện việc hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết, chuyển hồ sơ giải quyết, trả kết quả giải quyết các thủ tục hành chính, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính cho các tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban, ngành tỉnh có hiệu quả.

Việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông: Hiện nay, có 100% sở, ban, ngành tỉnh, ủy ban nhân dân cấp huyện và ủy ban nhân dân cấp xã đã triển khai và thực hiện cơ chế “một cửa”; 17/17 ủy ban nhân dân cấp huyện triển khai mô hình “một cửa điện tử hiện đại”. Hệ thống hoạt động hiệu quả, giảm thời gian xử lý công việc, tăng tính công khai, minh bạch, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.

Đã bố trí, sắp xếp trưởng ban dân vận đồng thời là chủ tịch ủy ban mặt trận Tổ quốc cấp huyện ở 12/17 huyện, thị xã, thành phố, dự kiến cuối năm 2019 sẽ thực hiện hoàn thành chủ trương này.

Đã bố trí, sắp xếp trưởng ban tuyên giáo đồng thời là giám đốc trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện ở 17/17 huyện, thị xã, thành phố.

Thực hiện mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân các cấp. Đối với cấp tỉnh: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã thống nhất giới thiệu đồng chí Bí thư Tỉnh ủy để Hội đồng nhân dân tỉnh bầu giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XI (nhiệm kỳ 2016 - 2021). Kết quả, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đã trúng cử chức vụ Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XI với số phiếu cao.

Đối với 17 huyện, thị xã, thành phố: Đầu nhiệm kỳ có 16/17 huyện, thị xã, thành phố (chiếm 94,1%) có đồng chí bí thư cấp ủy cấp huyện đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân cấp huyện (riêng huyện Đức Cơ, đồng chí Phó Bí thư Huyện ủy đồng thời là Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện do đồng chí Bí thư Huyện ủy không đủ tuổi cơ cấu). Đến tháng 6 năm 2019: Có 14 huyện, thị xã, thành phố (chiếm 82,4%) đồng chí bí thư cấp ủy cấp huyện đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân cấp huyện; 01 huyện có đồng chí phó bí thư huyện ủy giữ chức chủ tịch hội đồng nhân dân huyện (huyện Đức Cơ); 02 huyện khuyết chủ tịch hội đồng nhân dân (huyện Chư Pưh và huyện Ia Grai do đồng chí bí thư huyện ủy đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân huyện chuyển công tác khác).

Đối với 222 xã, phường, thị trấn: Đầu nhiệm kỳ có 184 xã, phường, thị trấn (chiếm 82,9%) bố trí đồng chí bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân. Đến tháng 6 năm 2019, có 173 xã, phường, thị trấn (chiếm 77,9%) bố trí đồng chí bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch hội đồng nhân dân cấp xã. Hiện còn 49 xã, phường, thị trấn (chiếm 22,1%) chưa bố trí đồng chí bí thư cấp ủy là chủ tịch hội đồng nhân dân cấp xã, trong đó có 37 xã bố trí đồng chí phó bí thư là chủ tịch hội đồng nhân dân cấp xã; 07 xã bố trí chủ tịch hội đồng nhân dân chuyên trách; 05 xã, phường, thị trấn chưa có chủ tịch hội đồng nhân dân (chiếm 2,2%).

Nguyên nhân là do: Chưa chuẩn bị kịp công tác nhân sự; một số đồng chí bí thư yếu về năng lực hoặc không đủ tuổi cơ cấu; số khác do luân chuyển, không có đại biểu hội đồng nhân dân.

Sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã chưa đủ tiêu chuẩn theo quy định và triển khai sáp nhập để tăng quy mô đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã theo tinh thần Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 24 tháng 12 năm 2018 của Bộ Chính trị về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã: Đối với cấp huyện: Tỉnh đã báo cáo Bộ Nội vụ đề nghị xem xét việc sáp nhập các đơn vị hành chính cấp huyện vào giai đoạn sau năm 2021, do không có đơn vị nào dưới 50% cả 2 tiêu chuẩn quy định về quy mô dân số và diện tích tự nhiên.

Đối với cấp xã: Toàn tỉnh có 37/222 đơn vị hành chính cấp xã chưa đạt 50% tiêu chuẩn về quy mô dân số, diện tích tự nhiên. Hiện tỉnh đã xây dựng xong đề án và triển khai thực hiện sáp nhập đối với 02 xã (xã Chư Jôr, huyện Chư Păh và xã Chư HDrông, thành phố Pleiku). Dự kiến cuối năm 2019 sẽ sáp nhập; sau sáp nhập số lượng cán bộ, công chức, người hoạt động không chuyên trách cấp xã giảm 31 người (gồm 10 cán bộ, 21 người hoạt động không chuyên trách), kinh phí chi thường xuyên hằng năm ước giảm 10,042 tỷ đồng.

Thực hiện hợp nhất các thôn, tổ dân phố chưa đủ tiêu chuẩn theo quy định: Số lượng thôn, tổ dân phố giảm sau khi thực hiện sắp xếp trong giai đoạn 2019 - 2021 là 584 thôn, tổ dân phố; trong đó năm 2018 đã thực hiện giảm 488 thôn, tổ dân phố; quý II năm 2019 giảm 46 thôn, tổ dân phố và dự kiến quý IV năm 2019 giảm 50 thôn, tổ dân phố.

Thực hiện việc khoán kinh phí chi phụ cấp theo định mức cho người hoạt động không chuyên trách cấp xã và thôn, tổ dân phố: Tỉnh đã thực hiện khoán kinh phí chi phụ cấp cho người hoạt động không chuyên trách bằng 33,25 lần mức lương cơ sở đối với mỗi xã, phường, thị trấn và 4,18 lần mức lương cơ sở đối với mỗi thôn, tổ dân phố từ năm 2018.

Thực hiện mô hình tự quản ở cộng đồng dân cư thôn, tổ dân phố: Sau khi sắp xếp, sáp nhập, trên địa bàn tỉnh có 1.672 thôn, làng, tổ dân phố (giảm 488 thôn, làng, tổ dân phố so với năm 2017) và đều tổ chức mô hình tự quản theo quy định ở cộng đồng dân cư. Tổ chức và hoạt động tự quản luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chi bộ thôn, làng, tổ dân phố, sự tham gia của các chi hội đoàn thể ở cơ sở và sự hưởng ứng tích cực của nhân dân trong thôn, làng, tổ dân phố. Qua đó, tạo sự gắn kết, góp phần quan trọng trong xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, sinh hoạt cộng đồng; phát huy vai trò tự quản, tự giác của từng thành viên; tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở.

Kết quả khắc phục tình trạng thôn, tổ dân phố chưa có tổ chức đảng và tình trạng trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố không phải là đảng viên: Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TU, ngày 11 tháng 7 năm 2006 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc kết nạp đảng viên, thu hẹp thôn, làng, tổ dân phố chưa có đảng viên và tổ chức đảng. Đến cuối năm 2014, toàn tỉnh có 2.159 thôn, làng, tổ dân phố đều có tổ chức đảng (trừ 01 làng người Campuchia và 04 làng Phong). Thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW, Nghị quyết số 137/NQ-HĐND, ngày 06 tháng 12 năm 2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh (khóa XI) về việc chia, nhập để thành lập và đặt tên mới thôn, tổ dân phố; đổi tên thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Gia Lai, đến tháng 6 năm 2019, số chi bộ thôn, làng, tổ dân phố có chi ủy là 1.272/1.672, chiếm 76,1% (tăng 23,1% so năm 2017). Trưởng thôn, làng, tổ dân phố là đảng viên là 1.002, chiếm 60% (tăng 10% so với năm 2017); bí thư chi bộ kiêm trưởng thôn, làng, tổ dân phố chiếm 17,5% (tăng 8,7% so với năm 2017).

Kết quả thực hiện tổ chức lại Đảng bộ Khối doanh nghiệp cấp tỉnh theo tinh  thần Kết luận số 34-KL/TW, ngày 07 tháng 8 năm 2018 của Bộ Chính trị về thực hiện một số mô hình thí điểm theo Nghị quyết 18-NQ/TW, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành quyết định hợp nhất Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh và Đảng bộ Khối doanh nghiệp tỉnh thành Đảng bộ Khối các cơ quan và doanh nghiệp tỉnh. Sau khi hợp nhất, giảm 01 đầu mối trực thuộc Tỉnh ủy và 05 đầu mối các ban (bao gồm cả cơ quan Đoàn Khối); các chức danh lãnh đạo ban giảm 05 vị trí, từ 15 vị trí (gồm 08 vị trí trưởng ban và 07 vị trí phó ban) xuống còn 10 vị trí (gồm 05 trưởng, 05 phó); giảm 04 biên chế, từ 33 biên chế xuống còn 29 biên chế. Lộ trình đến năm 2020, Đảng ủy Khối ổn định 23 biên chế, giảm 10 biên chế so với chưa hợp nhất và giảm 13 biên chế so với chỉ tiêu được giao (36 biên chế, bao gồm cả cán bộ chuyên trách Đoàn khối). Về đảng ủy viên trước khi hợp nhất là 40 đồng chí, sau khi hợp nhất là 29 đồng chí, giảm 11 đồng chí (tiết kiệm ngân sách chi phụ cấp cấp ủy viên mỗi tháng tương đương 6.556.000 đồng, theo mức lương mới).

Thực hiện Đề án sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh theo quy định, đến nay đã thành lập Trung tâm phục vụ hành chính công của tỉnh; sắp xếp, tổ chức lại 126/1.226 đơn vị sự nghiệp công lập gồm: 52 trường học và 74 đơn vị sự nghiệp, giảm 166 cán bộ quản lý (gồm 111 cấp trưởng và 55 cấp phó); tiếp tục tiến hành rà soát, giải thể các tổ chức phối hợp liên ngành đã hết nhiệm vụ, không còn phù hợp hoặc thành lập không đúng quy định; sắp xếp, kiện toàn lại các ban quản lý dự án chuyên ngành cấp tỉnh, ban quản lý dự án khu vực thuộc cấp huyện.

Đối với các hội quần chúng đã được hỗ trợ biên chế và kinh phí hoạt động: Kể từ năm 2018, đã tách biên chế (kể cả hợp đồng 68) của các hội ra khỏi biên chế sự nghiệp công lập. Kiểm soát chặt chẽ việc thành lập tổ chức và hoạt động của các hội quần chúng; thực hiện nghiêm túc và nhất quán nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phí hoạt động và tuân thủ pháp luật; Nhà nước chỉ cấp kinh phí để thực hiện những nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước giao.

Kết quả thực hiện đổi mới, hoàn thiện mô hình tổ chức đảng trong các doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương. Hiện nay, số tổ chức đảng trong doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước là 75 (tăng 04 tổ chức đảng so với năm 2017), trong đó: 25 đảng bộ cơ sở (tăng 08 so với năm 2017); 50 chi bộ cơ sở (giảm 14 so với năm 2017); 06 đảng bộ bộ phận; 223 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở; với 3.157 đảng viên. Tổ chức đảng trong các đơn vị sự nghiệp công lập là 129 (giảm 35 tổ chức đảng và giảm 42 chi bộ cơ sở so với năm 2017), trong đó: 10 đảng bộ cơ sở; 112 chi bộ cơ sở; 48 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở; với 2.954 đảng viên.

Kết quả thực hiện phát triển tổ chức đảng, đảng viên trong các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài nhà nước. Thực hiện Kết luận số 80-KL/TW, ngày 29 tháng 7 năm 2010 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 23 tháng 11 năm 1996 của Bộ Chính trị (khóa VIII) trong tình hình mới, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tổ chức quán triệt và chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện, đồng thời ban hành Chỉ thị số 07-CT/TU, ngày 08 tháng 12 năm 2016 về đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên, đoàn viên và tổ chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp tư nhân. Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW, ngày 18 tháng 3 năm 2019 của Ban Bí thư về tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Quyết định số 1436-QĐ/TU, ngày 06 tháng 6 năm 2019 thành lập Ban Chỉ đạo về tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân gồm có đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy làm Trưởng Ban, các phó Trưởng ban là đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy và đồng chí Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, các thành viên là lãnh đạo các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy, lãnh đạo các sở, ban, ngành của tỉnh.

Đến tháng 6 năm 2019, cấp đăng ký thành lập mới 375 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký là 2.680 tỷ đồng, nâng số lượng doanh nghiệp đăng ký hoạt động trên địa bàn tỉnh là 5.244 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký 92.678 tỷ đồng và 222 hợp tác xã với 16.550 thành viên. Số tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước là 42 và 01 tổ chức đảng hợp tác xã (tăng 03 tổ chức đảng so với năm 2017), trong đó: 07 đảng bộ cơ sở; 35 chi bộ cơ sở; 29 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở; với 983 đảng viên.

Số đơn vị sự nghiệp ngoài công lập là 47 (trong đó: 40 cơ sở giáo dục; 07 cơ sở y tế). Tổ chức đảng trong đơn vị sự nghiệp ngoài công lập là 01 chi bộ cơ sở. Từ năm 2017 đến tháng 6 tháng 2019, các chi bộ đã kết nạp được 61 quần chúng ưu tú trong đơn vị sự nghiệp ngoài công lập vào Đảng, nâng tổng số đảng viên trong các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập lên 158 đảng viên.

Nguyễn Ưu Ái

(Bấm vào đây để nhận mã)

Tin liên quan

60 năm chiến thắng điện biên phủ

Ảnh Xem tất cả >>

Video

Thường trực BBT Trần Quốc Vượng dự khánh thành trường Ama Trang Lơng

Bí thư Tỉnh ủy Dương Văn Trang khảo sát du lịch thác 50 và 40

Chiêng cổ giữa lòng phố núi

Giáo viên huyện Kbang trèo đèo, lội suối vận động học sinh đến lớp

Có một thảo nguyên Gia Lai giữa lòng hồ

Tỷ giá - Thời tiết

CurrencyTransferSell
USD2314023260
THB739.12769.95
SGD16641.1616822.9
SEK2366.642426.22
SAR6171.166413.3
RUB352.9393.24
NOK2544.412624.17
MYR5504.225575.48
KWD76105.679091.79
KRW18.4319.98
JPY212.48218.65
INR322.83335.5
HKD2936.972980.95
GBP28183.2528434.13
EUR25540.6726307.74
DKK3392.673499.02
CHF23349.1923746.25
CAD17287.3117581.29
AUD15537.2315801.44
Chọn thành phố

Liên kết website

Biển Hồ  Biển Hồ
Thi tuyển công chức, viên chức năm 2019
qlvb-internet
Bản tin tuần
Du lịch Gia Lai
Banner 2  http://tinhuygialai.org.vn/chuc-nang-nhiem-vu-cua-cac-co-quan-chuyen-trach-tham-muu-giup-viec-tinh-uy/vi-VN-0-411.html
Hình ảnh, chức danh Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV (2015-2020)
Đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính công
Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XI, nhiệm kỳ 2016-2021
Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Gia Lai năm 2016
LÊN ĐẦU TRANG