04/12/2013 - Lượt xem: 1433
Tiếp tục Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII, sáng 29/11, với tỷ lệ 89,96% số đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật đất đai (sửa đổi). Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014.

 Luật đất đai số 13/2003/QH11 và Nghị quyết số 49/2013/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2013 của Quốc hội về kéo dài thời hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối của hộ gia đình, cá nhân hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

Luật đất đai (sửa đổi) có 14 chương và 212 điều. Luật quy định về chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai; quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 

Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII. Ảnh: Mạnh Hùng


Trước đó, Chủ nhiệm Ủy ban kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu đã trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội về dự án Luật đất đai (sửa đổi).

Về quyền và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai, có ý kiến đề nghị làm rõ hơn vai trò đại diện của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác trong cơ chế Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) tiếp thu và chỉnh lý Điều 21 như sau: “Điều 21. Thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai; 1. Quốc hội ban hành luật, nghị quyết về đất đai, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước; 2. Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình trước khi trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; thông qua bảng giá đất, việc thu hồi đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng của địa phương theo thẩm quyền quy định tại Luật này; giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương; 3. Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai theo thẩm quyền quy định tại Luật này.”

Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, có ý kiến đề nghị chỉ quy định kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm và không quy định tầm nhìn 20 năm.

Về thu hồi đất, trưng dụng đất, có ý kiến đề nghị bổ sung một số trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh như: xây dựng trụ sở làm việc; trung tâm huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ, nhà nghỉ dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng. UBTVQH tiếp thu và chỉnh lý vào các khoản 1, 8 và 10 Điều 61 của dự thảo Luật.

Có ý kiến đề nghị quy định làm rõ thẩm quyền cho phép thu hồi đất nêu tại các điểm b, c, d và đ khoản 1 Điều 62 của dự thảo Luật để tránh tùy tiện trong thu hồi đất. UBTVQH tiếp thu và chỉnh lý Điều 62 của dự thảo Luật như sau: “Điều 62. Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các trường hợp sau đây:

1. Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất; 

2. Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm: 
a) Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); b) Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia; c) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm: giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải;

3. Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất bao gồm: a) Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương; b) Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm: giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải; c) Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; d) Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; đ) Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản.”

Có ý kiến đề nghị giao Chính phủ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục cưỡng chế để áp dụng thống nhất trong cả nước vì đây là vấn đề phức tạp và có liên quan đến quyền và lợi ích của người dân. UBTVQH tiếp thu và bổ sung quy định tại khoản 6 Điều 71 của dự thảo Luật.

Về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về bồi thường đối với đất phi nông nghiệp của cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo.UBTVQH tiếp thu và chỉnh lý khoản 2 Điều 75 và bổ sung khoản 5 Điều 81 như sau:

“Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng - 
2. Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.”

“Điều 81. Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - 5. Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất phi nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ.”

Về giá đất, có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về theo dõi biến động giá đất và quy định tỷ lệ biến động giá đất thị trường để điều chỉnh khung giá đất, bảng giá đất. UBTVQH tiếp thu, bổ sung nội dung theo dõi biến động giá đất vào điểm đ khoản 1 Điều 32 và chỉnh lý Điều 113 như sau: “Điều 113. Khung giá đất; Chính phủ ban hành khung giá đất định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng. Trong thời gian thực hiện khung giá đất mà giá đất phổ biến trên thị trường tăng từ 20% trở lên so với giá tối đa hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá tối thiểu trong khung giá đất thì Chính phủ điều chỉnh khung giá đất cho phù hợp.”

Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về sự tham gia của cơ quan tư vấn giá đất trong Hội đồng thẩm định giá đất để đảm bảo sự khách quan. UBTVQH tiếp thu và bổ sung khoản 3 Điều 114 của dự thảo Luật như sau: “3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể. Cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc xác định giá đất cụ thể. Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh được thuê tổ chức có chức năng tư vấn định giá đất để tư vấn xác định giá đất cụ thể.

Việc xác định giá đất cụ thể phải dựa trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai; áp dụng phương pháp định giá đất phù hợp. Căn cứ kết quả tư vấn giá đất, cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh trình Hội đồng thẩm định giá đất xem xét trước khi trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định.

Hội đồng thẩm định giá đất gồm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm Chủ tịch và đại điện của cơ quan, tổ chức có liên quan, tổ chức có chức năng tư vấn định giá đất"./. (Theo ĐCSVN)

(Bấm vào đây để nhận mã)

60 năm chiến thắng điện biên phủ

Ảnh Xem tất cả >>

Video

Bí thư Tỉnh ủy dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn Dân tộc

Làng Ia Gri nối nhịp chiêng mừng Lễ hội

[Video] Quảng trường Ba Đình treo cờ rủ Quốc tang Chủ tịch nước

Kỳ vĩ thác 3 tầng

[Video]: Các sở ngành được đề xuất hợp nhất như thế nào

Tỷ giá - Thời tiết

CurrencyTransferSell
USD2326523355
THB692.07720.78
SGD16862.4417042.87
SEK2547.232610.78
SAR6196.636438.36
RUB352.14392.31
NOK2712.692797.11
MYR5526.515596.83
KWD76450.1979432.56
KRW20.0121.26
JPY203.27209.62
INR323.89336.52
HKD2953.622997.19
GBP29712.2529970.19
EUR26336.3926723.77
DKK3491.783600.44
CHF23024.8223317.79
CAD1762017808.54
AUD16873.9717054.53
Chọn thành phố

Liên kết website

Biển Hồ  Biển Hồ
qlvb-internet
Bản tin tuần
Du lịch Gia Lai
Banner 2  http://tinhuygialai.org.vn/chuc-nang-nhiem-vu-cua-cac-co-quan-chuyen-trach-tham-muu-giup-viec-tinh-uy/vi-VN-0-411.html
Hình ảnh, chức danh Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV (2015-2020)
Đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính công
Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XI, nhiệm kỳ 2016-2021
Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Gia Lai năm 2016
LÊN ĐẦU TRANG