Hỏi đáp công tác xây dựng Đảng

8/27/2018 2:15:32 PM

            Hỏi: Việc sinh hoạt đảng thường kỳ của đảng viên sinh hoạt tạm thời được hiểu như thế nào?

Trả lời: Đảng viên sinh hoạt tạm thời có nhiệm vụ, quyền hạn ở cả nơi sinh hoạt chính thức và nơi sinh hoạt tạm thời. Tuy nhiên, ở nơi sinh hoạt tạm thời chi bộ không tính đảng số của đảng viên này (không có quyền biểu quyết, ứng cử và bầu cử), nhưng phải đóng đảng phí và có nghĩa vụ sinh hoạt thường kỳ như đảng viên của chi bộ.

Như vậy, việc sinh hoạt đảng thường kỳ 1 tháng 1 lần của đảng viên sinh hoạt tạm thời thì thực hiện tại nơi sinh hoạt đảng tạm thời. Việc tham gia sinh hoạt đảng tại nơi sinh hoạt chính thức được khuyến khích nếu có điều kiện tham gia.

            Hỏi:  Ở chi bộ đang sinh hoạt, có đảng viên dự bị sau khi đủ 12 tháng dự bị nhưng chi bộ và đảng ủy cơ sở quên không làm thủ tục công nhận đảng viên chính thức cho đảng viên. Từ thời điểm dự bị đến nay đã được 6 năm vậy phải thực hiện như thế nào cho đúng quy định (lỗi không phải từ phía đảng viên).

Trả lời: Điểm 4 (4.2 b) Quy định số 29-QĐ/TW ngày 25-7-2016 của BCH Trung ương quy định: “a) Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày đảng viên hết 12 tháng dự bị, chi bộ phải xét và đề nghị công nhận chính thức cho đảng viên; nếu không đủ điều kiện công nhận là đảng viên chính thức thì đề nghị lên cấp uỷ có thẩm quyền quyết định xoá tên.

b) Đảng viên dự bị đủ điều kiện được công nhận là đảng viên chính thức, dù chi bộ họp chậm, cấp uỷ có thẩm quyền chuẩn y chậm, vẫn được công nhận đảng viên chính thức đúng thời điểm hết 12 tháng dự bị”.

Trường hợp nêu trên đã vi phạm Quy định số 29-QĐ/TW ngày 25-7-2016, lỗi chủ yếu thuộc về chi bộ và các cấp ủy có liên quan. Vì vậy, chi bộ và các cấp ủy có thẩm quyền phải làm thủ tục chuyển đảng viên chính thức cho đảng viên; thời gian công nhận đảng viên chính thức được tính từ ngày hết hạn dự bị. Đồng thời, kiểm điểm trách nhiệm đối với tập thể và cá nhân có liên quan đến sai phạm trên.

            Hỏi: Đảng viên đã được miễn công tác và sinh hoạt đảng khi dự hội nghị chi bộ cuối năm có được tham gia biểu quyết bình xét đảng viên của chi bộ không? Khi tính tỷ lệ bình xét đảng viên cuối năm của chi bộ, phương án nào sau đây là đúng?

Phương án 1: Tính tổng số đảng viên của chi bộ (kể cả đảng viên được miễn công tác và sinh hoạt đảng).

Phương án 2: Số đảng viên có mặt trong buổi họp chi bộ (kể cả đảng viên được miễn công tác và sinh hoạt đảng).

Phương án 3: Đảng viên có mặt trong buổi họp (không tính các đảng viên được miễn công tác và sinh hoạt đảng và các đảng viên vắng mặt có lý do chính đáng).

Trả lời: Căn cứ Hướng dẫn số 27-HD/BTCTW ngày 25-9-2014 của Ban Tổ chức Trung ương về kiểm điểm tập thể, cá nhân và đánh giá, phân loại chất lượng TCCSĐ, đảng viên hằng năm, tại Điểm 2.2.3. quy định: Đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là đảng viên phải hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao và phải có trên 2/3 số đảng viên chính thức bỏ phiếu tán thành; đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ là đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao nhưng chưa đủ điều kiện đạt mức “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” và phải có trên 1/2  số đảng viên chính thức bỏ phiếu tán thành; đảng viên hoàn thành nhiệm vụ là đảng viên cơ bản hoàn thành nhiệm vụ được giao và có trên 1/2 số đảng viên chính thức bỏ phiếu tán thành; đảng viên không hoàn thành nhiệm vụ là đảng viên đang chấp hành kỷ luật của Đảng, chính quyền, đoàn thể trong thời hạn 1 năm hoặc vi phạm một trong các khuyết điểm… và có trên 1/2 số đảng viên chính thức bỏ phiếu tán thành.

Như vậy, việc xếp loại đảng viên phải tính trên tổng số đảng viên chính thức của chi bộ. Tuy nhiên, đảng viên chính thức của chi bộ đến dự thì tính, nếu không đến dự thì không tính vào con số đảng viên để bình xét các danh hiệu nêu trên (vận dụng theo Điểm 13.2 Hướng dẫn số 01-HD/TW ngày 20-9-2016 của Ban Bí thư về thi hành Điều lệ Đảng).

Như vậy, đảng viên được miễn công tác và sinh hoạt đảng khi dự hội nghị chi bộ cuối năm được tham gia biểu quyết, bình xét đảng viên của chi bộ và phương án 2 là câu trả lời đúng.

          Hỏi: Tôi có bố đẻ bị kết án tù treo 6 tháng và đã được tòa án xóa án tích. Tôi được biết Bộ luật Hình sự quy định khi được xóa án tích thì coi như chưa bị kết án và lý lịch tư pháp của người đó cũng không bị ghi đã từng có tiền án. Vậy khi làm hồ sơ kết nạp đảng viên, trong quyển lý lịch đảng viên phần khai về bố, tôi có cần ghi bố bị kết án tù không?

Trả lời:  Điều 4, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định: Người vào Đảng phải báo cáo trung thực lý lịch với chi bộ. Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW ngày 5-6-2017 của Ban Tổ chức Trung ương “Hướng dẫn nghiệp vụ công tác đảng viên”, ở Mục 1.3 Khai và chứng nhận lý lịch của người xin vào Đảng, điểm 22, khoản 1.3.2 về hoàn cảnh gia đình: Cha, mẹ đẻ (hoặc người nuôi dưỡng từ nhỏ), cha, mẹ vợ (hoặc cha, mẹ chồng), vợ (hoặc chồng). Ghi rõ: họ và tên, năm sinh, nơi sinh, quê quán; nơi cư trú, nghề nghiệp, thành phần giai cấp, lịch sử chính trị của từng người qua các thời kỳ.

Như vậy, trường hợp của đồng chí trong lý lịch đảng cần khai đầy đủ việc bố bị kết án tù nhưng được hưởng án treo và đã được xóa án tích.

        Hỏi: Có đảng viên được chi bộ bình xét là đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2016. Sau đó, chi bộ báo cáo lên đảng ủy cấp trên để xem xét, công nhận danh hiệu cho đảng viên. Tuy nhiên, tại hội nghị của BCH Đảng bộ họp bình xét đảng viên trong năm 2016 đã giới thiệu thêm một số đảng viên khác ở trong đảng ủy, có đưa thêm 2 đảng viên của chi bộ tôi (như vậy chi bộ tôi có 5 người được đưa vào danh sách bỏ phiếu, theo quy định là thừa 2 người) và tiến hành bình xét bằng hình thức bỏ phiếu kín đối với tất cả các trường hợp của các chi bộ bình xét tín nhiệm và các trường hợp được giới thiệu trực tiếp. Sau khi bỏ phiếu, đảng viên của chi bộ tôi có 4 người được công nhận đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trong đó có 2 người không phải do chi bộ tôi nhất trí bỏ phiếu.

         Xin hỏi việc bình xét của Đảng ủy như vậy có đúng không? Được quy định tại văn bản nào?

Trả lời: Điểm 2 (2.2.3a) Hướng dẫn số 27-HD/BTCTW ngày 25-9-2014 của Ban Tổ chức Trung ương nêu rõ: Đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là đảng viên phải hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao và phải có trên 2/3 số đảng viên chính thức bỏ phiếu tán thành. Nếu đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức đang công tác thì phải được phân loại cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hoặc được đề nghị đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp cơ sở hoặc trong năm có thành tích xuất sắc được cấp bộ hoặc cấp tỉnh tặng bằng khen.

Số đảng viên được phân loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ không vượt quá 15% số đảng viên được phân loại hoàn thành tốt nhiệm vụ và đề nghị cấp trên khen thưởng; đối với chi bộ có dưới 7 đảng viên thì không quá 1 đồng chí; đảng bộ, chi bộ có thành tích đặc biệt xuất sắc thì số đảng viên xuất sắc có thể tăng thêm nhưng không quá 20% số đảng viên được phân loại hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Căn cứ vào hướng dẫn nêu trên thì việc đảng ủy tự ý đưa thêm 2 đảng viên vào danh sách bình xét đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là không đúng với quy định hiện hành của Đảng.

          Hỏi: Đối với quần chúng chưa có chồng mà đã có con thì có được xem xét kết nạp vào Đảng hay không?

Trả lời: Phụ nữ có con ngoài giá thú là quyền của phụ nữ đã được pháp luật thừa nhận. Việc phụ nữ chưa có chồng mà đã có con nhưng không vi phạm pháp luật và các quy định hiện hành của Đảng; không vi phạm vào những điều đảng viên không được làm thì vẫn được xem xét, kết nạp vào Đảng như những quần chúng khác.

          Hỏi: Chi bộ trực thuộc đảng ủy cấp trên cơ sở có trên 30 đảng viên có được lập đảng bộ bộ phận không? Nếu được lập, đảng bộ bộ phận đó trực thuộc cấp ủy cấp trên cơ sở hay trực thuộc cấp ủy nào?

Trả lời: Đảng bộ bộ phận là loại hình tổ chức đảng được lập ở các đảng bộ cơ sở mà ở đó có chi bộ quá đông đảng viên, khó khăn trong sinh hoạt thường kỳ. Điều lệ Đảng quy định: Đối với các tổ chức đảng cơ sở có từ 30 đảng viên trở lên theo quy định của Điều lệ Đảng lập đảng bộ cơ sở, không thành lập chi bộ cơ sở.

Đảng bộ bộ phận chỉ có ở đảng bộ cơ sở, trực thuộc đảng ủy cơ sở, không được lập để trực thuộc đảng ủy cấp trên cơ sở.

          Hỏi: Xin hỏi thời hạn cấp ủy cơ sở có trách nhiệm trả lời chất vấn, kiến nghị của đảng viên được quy định như thế nào?

Trả lời: Theo quy định của Điều lệ Đảng và hướng dẫn của Trung ương thì đảng viên có quyền phê bình, chất vấn, báo cáo, kiến nghị trực tiếp hoặc bằng văn bản trong phạm vi tổ chức của Đảng về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp, về những vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức đảng hoặc chức trách, nhiệm vụ, phẩm chất đạo đức của đảng viên đó, chịu trách nhiệm trước tổ chức đảng về ý kiến của mình. Thời hạn mà TCCSĐ phải có trách nhiệm trả lời chất vấn, kiến nghị của đảng viên là 30 ngày làm việc; trong trường hợp phức tạp cần phải kéo dài hơn thời gian quy định trên thì phải thông báo cho đảng viên biết lý do.

         Hỏi:  Thủ tục cho ra khỏi Đảng đối với đảng viên có giống như xử lý kỷ luật đối với đảng viên hay không?

Trả lời: Thủ tục cho ra khỏi Đảng đối với đảng viên xin ra khỏi Đảng là thủ tục riêng, khác với thủ tục xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Chỉ xem xét, cho ra khỏi Đảng đối với những đảng viên chưa vi phạm về tư cách. Nếu vi phạm về tư cách thì phải xử lý kỷ luật về Đảng, sau đó mới xem xét cho ra khỏi Đảng.

         Hỏi:  Thực hiện Quy định số 76-QĐ/TW ngày 15-6-2000 của Bộ Chính trị về đảng viên thường xuyên giữ mối liên hệ với đảng ủy, chi ủy nơi cư trú... Hiện nay trên địa bàn TP. Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên có hai loại ý kiến:

       - Loại ý kiến thứ nhất: Khi đảng viên dự bị được cấp có thẩm quyền xét công nhận đảng viên chính thức thì mới giới thiệu về sinh hoạt tại địa bàn nơi cư trú.

        - Loại ý kiến thứ hai: Ngay sau khi kết nạp đảng viên phải làm thủ tục giới thiệu về sinh hoạt tại địa bàn nơi cư trú.

         Vậy ý kiến nào đúng?

Trả lời: Điều 1, khoản 1 Quy định số 76-QĐ/TW ngày 15-6-2000 của Bộ Chính trị quy định “Đảng viên đang công tác ở các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp vừa thực hiện đúng quy định của Điều lệ Đảng về sinh hoạt đảng tại nơi làm việc; vừa có trách nhiệm “thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở nơi cư trú” nhằm gần gũi với nhân dân...”.

Theo quy định trên thì mọi đảng viên đang công tác ở các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp đều phải được giới thiệu về sinh hoạt tại địa bàn nơi cư trú. Như vậy, ý kiến thứ hai là đúng.

         Hỏi:  Trường hợp quần chúng Nguyễn Văn Hùng (hồ sơ của Chi bộ Ban Tuyên giáo, Đảng bộ Cơ quan Huyện ủy Y.M đề nghị): Lý lịch gia đình và bản thân của quần chúng Nguyễn Văn Hùng khai đầy đủ, rõ ràng. Quá trình công tác quần chúng Nguyễn Văn Hùng có ý thức phấn đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trong phần khai về bố mẹ đẻ: Bố mẹ của quần chúng Nguyễn Văn Hùng xây dựng nhà trái phép, vi phạm Luật Đất đai nên bị UBND thị trấn T.H quyết định xử lý hành chính và yêu cầu tháo dỡ nhưng đến nay vẫn chưa tháo dỡ. Ban Tổ chức Huyện ủy Y.M cho rằng quần chúng Nguyễn Văn Hùng chưa đủ điều kiện để kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tuy vậy, có ý kiến cho rằng: Bố mẹ quần chúng Nguyễn Văn Hùng vi phạm chứ bản thân quần chúng không vi phạm nên vẫn đủ điều kiện kết nạp vào Đảng.

Để có cơ sở tham mưu cho Ban Thường vụ Huyện ủy xem xét, quyết định kết nạp đối với quần chúng nêu trên, Ban Tổ chức Huyện ủy Y.M mong Tòa soạn hướng dẫn, trả lời để thực hiện.

Trả lời: Điều 2, Khoản 3 Điều lệ Đảng quy định về nhiệm vụ của đảng viên nêu rõ: “Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân; tích cực tham gia công tác quần chúng, công tác xã hội nơi làm việc và nơi ở; tuyên truyền vận động gia đình và nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước”.

Trường hợp của quần chúng Nguyễn Văn Hùng, hiện tại bố mẹ và gia đình đang vi phạm pháp luật về đất đai (xây nhà trái phép) đã bị chính quyền xử lý hành chính, yêu cầu phá dỡ nhưng đến nay gia đình vẫn không chấp hành nên đã vi phạm quy định nêu trên. Vì vậy, trước mắt chưa nên xem xét, kết nạp vào Đảng đối với quần chúng Nguyễn Văn Hùng.

          Hỏi:  Tháng 4-1981 tôi tình nguyện lên đường nhập ngũ, nhưng do chưa đủ tuổi tôi phải khai tăng thêm 2 tuổi từ 19-5-1966 lên 19-5-1964 để đủ tuổi nhập ngũ. Trong thời gian tại ngũ tôi được kết nạp vào Đảng, hết thời gian nhập ngũ tôi được chuyển ngành. Vì vậy sau này hồ sơ đảng viên và CBCNV của tôi ghi sinh ngày 19-5-1964.

Nay tôi làm đơn xin điều chỉnh lại hộ tịch cho đúng với Giấy khai sinh gốc và đã được chính quyền địa phương, cơ quan công an cấp lại trích lục giấy khai sinh, chứng minh nhân dân và hộ khẩu sinh ngày 19-5-1966.

         Xin hỏi, là một đảng viên bình thường không giữ chức vụ gì trong Đảng và chính quyền, căn cứ vào quy định mới của Đảng về việc thay đổi hộ tịch thì cơ quan chủ quản có điều chỉnh năm sinh của tôi trong hồ sơ CBCNV và Lý lịch đảng viên cho đúng với hồ sơ hộ tịch của tôi được không? Tôi cần làm thủ tục gì?

Trả lời: Thông báo số 13-TB/TW ngày 17-8-2016 và Hướng dẫn số 01-HD/TW ngày 20-9-2016 của Ban Bí thư đã quy định: “Kể từ ngày 18-8-2016, không xem xét điều chỉnh tuổi của đảng viên mà thống nhất xác định tuổi của đảng viên theo tuổi khai trong hồ sơ Lý lịch đảng viên (hồ sơ gốc) khi được kết nạp vào Đảng”; Công văn số 1901-CV/BTCTW ngày 5-12-2016 của Ban Tổ chức Trung ương nêu rõ: “Đối với trường hợp tuổi ghi trong hồ sơ lý lịch cán bộ hoặc các giấy tờ liên quan khác kèm theo hồ sơ cán bộ không trùng khớp với hồ sơ lý lịch đảng viên gốc, khi tiến hành quy trình công tác cán bộ như: quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, bố trí, sử dụng và thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức là đảng viên thì các cấp ủy, tổ chức đảng phải lấy tuổi khai trong hồ sơ lý lịch đảng viên (hồ sơ gốc) khi kết nạp vào Đảng làm căn cứ để thực hiện nhất quán, nghiêm túc, khách quan, theo đúng Hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng (Hướng dẫn số 01-HD/TW ngày 20-9-2016) và Thông báo số 13-TB/TW ngày 17-8-2016 của Ban Bí thư”.

Căn cứ vào các quy định trên thì trường hợp của đồng chí không được xem xét điều chỉnh tuổi trong hồ sơ đảng viên.

          Hỏi:  Hướng dẫn số 27-HD/BTCTW ngày 25-9-2014 của Ban Tổ chức Trung ương về kiểm điểm tập thể, cá nhân và đánh giá, phân loại chất lượng TCCSĐ, đảng viên hằng năm, điểm 1.3 phân loại chất lượng, phần B đánh giá phân loại đảng bộ (chi bộ) trong sạch, vững mạnh (TSVM) quy định: “…chi bộ có 100% đảng viên đạt mức hoàn thành nhiệm vụ trở lên, đảng bộ có 100% số tổ chức đảng trực thuộc đạt mức hoàn thành nhiệm vụ trở lên”.

Như vậy đối với chi bộ đạt TSVM phải đạt các tiêu chí theo quy định, trong đó có tiêu chí tất cả đảng viên trong chi bộ đạt mức hoàn thành nhiệm vụ trở lên.

Đối với đảng bộ đạt TSVM thì có 2 loại ý kiến:

1- Đảng bộ đạt TSVM phải đạt các tiêu chí theo quy định, trong đó đảng bộ có 100% số tổ chức đảng trực thuộc đạt mức hoàn thành nhiệm vụ trở lên.

2- Đảng bộ đạt TSVM phải đạt các tiêu chí theo quy định, trong đó đảng bộ có 100% số tổ chức đảng trực thuộc đạt mức hoàn thành nhiệm vụ trở lên và 100% đảng viên trong đảng bộ đạt mức hoàn thành nhiệm vụ trở lên.

          Xin hỏi, đối với đảng bộ đạt TSVM, loại ý kiến nào là đúng?

Trả lời: Điểm 1.3 Hướng dẫn số 27-HD/BTCTW ngày 25-9-2014 của Ban Tổ chức Trung ương nêu rõ:

“Đảng bộ (chi bộ) TSVM: hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao và đạt 90 điểm trở lên và bảo đảm các điều kiện:

- Tập thể ban thường vụ, cấp ủy đoàn kết, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ;

- Chi bộ, đảng bộ sinh hoạt đúng quy định; chi bộ có 100% đảng viên đạt mức hoàn thành nhiệm vụ trở lên, đảng bộ có 100% số tổ chức đảng trực thuộc đạt mức “Hoàn thành nhiệm vụ” trở lên;

- Chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp phân loại chất lượng đạt mức cao nhất ...”.

Căn cứ Hướng dẫn trên thì đảng bộ TSVM không nhất thiết phải có 100% đảng viên trong đảng bộ đạt mức hoàn thành nhiệm vụ trở lên. Như vậy, ý kiến thứ nhất là đúng.

         Hỏi:  Tôi là đảng viên sinh con thứ ba. Chi bộ đã xét kỷ luật khiển trách tôi bằng hình thức giơ tay biểu quyết. Vậy chi bộ tôi làm vậy có đúng không?

Trả lời: Đảng viên sinh con thứ 3 là vi phạm vào Điểm 17, Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 1-11-2011 của BCH Trung ương quy định về những điều đảng viên không được làm. Vì vậy, phải đưa ra xem xét kỷ luật theo quy định tại Điều 26 Quy định số 181-QĐ/TW ngày 30-3-2013 của Bộ Chính trị.

Về thủ tục, theo quy định Điểm 49.7 Quy định số 45-QĐ/TW ngày 1-11-2011 của BCH Trung ương, thì: “Việc biểu quyết quyết định kỷ luật hoặc đề nghị kỷ luật phải bằng phiếu kín”. Theo quy định nêu trên thì việc chi bộ biểu quyết kỷ luật đảng viên bằng hình thức giơ tay là sai quy định.

        Hỏi:  Tôi là đảng viên 15 năm tuổi đảng. Nay tôi đi làm ăn xa, nơi làm việc không có tổ chức đảng. Tôi đã làm đơn xin miễn sinh hoạt đảng cả năm 2016 và xin nộp đảng phí đều đặn hằng tháng. Xin hỏi có văn bản nào của Trung ương nói về trường hợp này không?

Trả lời: Việc đảng viên đi làm ăn xa nơi cư trú, xin miễn sinh hoạt đảng được quy định tại Điểm 9.3 Hướng dẫn số 01-HD/TW ngày 5-1-2012 của Ban Bí thư, cụ thể như sau:

“Đảng viên đi làm việc lưu động ở các địa phương trong nước, việc làm không ổn định hoặc ở những nơi chưa có tổ chức đảng, không có điều kiện trở về tham gia sinh hoạt chi bộ theo quy định của Điều lệ Đảng thì đảng viên phải làm đơn báo cáo chi bộ xem xét cho tạm miễn sinh hoạt.

Nếu đảng viên đi ra ngoài địa phương nơi cư trú (vì việc làm hoặc vì việc riêng) có lý do chính đáng và thời gian dưới 12 tháng thì chi bộ xét, đề nghị đảng uỷ cơ sở cho đảng viên được tạm miễn sinh hoạt đảng và công tác trong thời gian đó”. Nếu đồng chí đi làm ăn xa dưới 12 tháng thì làm đơn xin tạm miễn sinh hoạt đảng theo quy định trên.

           Hỏi: Tại nơi tôi sinh hoạt chi bộ, có 1 đồng chí trước đi bộ đội và được kết nạp vào Đảng, khi ra quân về địa phương, do hoàn cảnh gia đình đồng chí đó không tham gia sinh hoạt đảng, đi làm ăn xa nhưng không có đơn xin tạm miễn sinh hoạt, sau một thời gian đã trở về địa phương, từ đó đến nay luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhiệt tình trong các phong trào của địa phương. Nay có ý kiến giới thiệu đồng chí đó vào Đảng, nguyện vọng đồng chí đó cũng muốn được vào Đảng. Đồng chí bí thư chi bộ cũ (địa phương tôi khi đó chưa có Đảng bộ) xác nhận là thời gian đó đồng chí này đã có báo cáo về hoàn cảnh gia đình và xin nghỉ sinh hoạt đảng. Xin hỏi, trường hợp này có được kết nạp lại vào Đảng không?

Trả lời: Trường hợp nêu trên, khi xuất ngũ về địa phương đồng chí này đã đi làm ăn xa, không tham gia sinh hoạt đảng, không làm đơn xin tạm miễn sinh hoạt đảng nên thuộc trường hợp tự bỏ sinh hoạt đảng. Điểm 9.2 Quy định số 45-QĐ/TW ngày 1-11-2011 của BCH Trung ương nêu rõ: “không xem xét, kết nạp lại những người trước đây ra khỏi Đảng vì lý do: Vi phạm lịch sử chính trị và chính trị hiện nay theo quy định của Bộ Chính trị; tự bỏ sinh hoạt đảng; làm đơn xin ra Đảng (trừ trường hợp vì lý do gia đình đặc biệt khó khăn)…”.

Theo quy định này thì trường hợp nêu trên thuộc diện không được xem xét, kết nạp lại vào Đảng.

           Hỏi: Thời gian từ khi đối tượng được chi bộ xét cảm tình đảng, phân công đảng viên theo dõi giúp đỡ đến lúc chi bộ ra nghị quyết đề nghị kết nạp tối thiểu là bao lâu? Ở huyện chúng tôi, có địa phương quy định 3 tháng, có nơi quy định 6 tháng, có nơi quy định 12 tháng? Vậy xin hỏi Trung ương quy định việc này như thế nào?

Trả lời: Các quy định và hướng dẫn của Trung ương hiện nay không quy định thời gian từ khi người xin vào Đảng được chi bộ xét cảm tình đảng, phân công đảng viên theo dõi giúp đỡ đến lúc chi bộ ra nghị quyết đề nghị kết nạp.

          Hỏi: Ở địa phương tôi có một số cảm tình đảng đã tham gia học lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng và được cấp giấy chứng nhận. Vậy xin hỏi sau mấy tháng thì họ được kết nạp vào Đảng?

Trả lời: Khoản 3, Điều 4, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định về trách nhiệm của chi bộ và cấp ủy trong việc thực hiện thủ tục kết nạp đảng viên như sau:

“- Trước khi chi bộ xét và đề nghị kết nạp, chi ủy kiểm tra lại điều kiện của người vào Đảng và lấy ý kiến nhận xét của tổ chức đoàn thể nơi người đó sinh hoạt.

Vấn đề lịch sử chính trị của người vào Đảng phải thực hiện theo quy định của BCH Trung ương.

- Chi bộ xét và đề nghị kết nạp từng người một, khi được ít nhất hai phần ba số đảng viên chính thức trong chi bộ tán thành thì đề nghị lên cấp ủy cấp trên; khi có quyết định của cấp ủy cấp trên, chi bộ tổ chức lễ kết nạp từng người một.

- Đảng ủy cơ sở xét, nếu được ít nhất hai phần ba số cấp ủy viên tán thành thì đề nghị lên cấp ủy cấp trên trực tiếp.

- Ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp của TCCSĐ hoặc cấp ủy cơ sở được ủy quyền xét, quyết định kết nạp từng người một”.

Hướng dẫn số 01-HD/TW ngày 5-1-2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng”, mục 3.6 “Nghị quyết của chi bộ và cấp ủy cơ sở xét kết nạp người vào Đảng” cũng quy định:

a) Chi bộ (kể cả chi bộ cơ sở) xem xét: Đơn xin vào Đảng; lý lịch của người vào Đảng; văn bản giới thiệu của đảng viên chính thức; nghị quyết giới thiệu đoàn viên của BCH Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cơ sở hoặc nghị quyết giới thiệu đoàn viên công đoàn của BCH công đoàn cơ sở; bản tổng hợp ý kiến nhận xét của đoàn thể chính trị xã hội nơi người vào Đảng sinh hoạt và chi ủy hoặc chi bộ nơi cư trú.

b) Nếu được hai phần ba số đảng viên chính thức trở lên đồng ý kết nạp người vào Đảng thì chi bộ ra nghị quyết đề nghị cấp ủy cấp trên xem xét, quyết định…

c) Tập thể đảng ủy cơ sở thảo luận, biểu quyết, nếu được hai phần ba số cấp ủy viên trở lên đồng ý thì ra nghị quyết đề nghị cấp ủy cấp trên xét kết nạp…

Như vậy, thủ tục xem xét kết nạp đảng viên phải trải qua nhiều khâu, nhiều cấp mất nhiều thời gian và việc thực hiện từng khâu trong thủ tục xem xét kết nạp đảng viên ở mỗi nơi cũng khác nhau tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Do vậy, các quy định, hướng dẫn hiện nay chưa quy định cụ thể (và không thể quy định cụ thể được) thời gian từ khi học xong lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng đến khi kết nạp vào Đảng là mấy tháng. Tuy nhiên, do giấy chứng nhận đã học lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng có thời hạn (5 năm), nên các chi bộ, cấp ủy cơ sở và cấp ủy cấp trên cơ sở nên khẩn trương xem xét kết nạp người vào Đảng.

            Hỏi: Chi bộ trường học A có một đảng viên dự bị. Trong thời gian dự bị đã bị chi bộ và hội đồng nhà trường nhắc nhở 6, 7 lần về ý thức kỷ luật, xử lý công việc… có biên bản làm việc, nhưng không có xử lý kỷ luật. Hết thời gian dự bị, chi bộ làm thủ tục chuyển lên trên đề nghị công nhận đảng viên chính thức thì trên 90% đảng viên chính thức không đồng ý vì đảng viên dự bị không có sửa chữa, tiến bộ. Nhưng cấp ủy cấp trên cho rằng, trong thời gian dự bị đảng viên không bị kỷ luật nên quyết định chuyển chính thức. Vậy cấp ủy cấp trên quyết định có đúng không?

Trả lời: Điểm 4 (4.2) Quy định số 29-QĐ/TW ngày 25-7-2016 của BCH Trung ương quy định: “Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi đảng viên hết 12 tháng dự bị, chi bộ phải xét và đề nghị công nhận chính thức cho đảng viên; nếu không đủ điều kiện công nhận là đảng viên chính thức thì đề nghị lên cấp uỷ có thẩm quyền quyết định xoá tên”.

Trường hợp đảng viên nêu trên, trong thời gian dự bị đã có nhiều hạn chế, khuyết điểm và bị chi bộ nhắc nhở nhiều lần; điều đó thể hiện ý thức rèn luyện, phấn đấu của đảng viên dự bị kém nên chi bộ không đồng ý chuyển đảng viên chính thức là có căn cứ và có trên 90% đảng viên trong chi bộ không đồng ý cho chuyển đảng viên chính thức. Việc cấp ủy có thẩm quyền ra quyết định chuyển đảng viên chính thức cho đảng viên dự bị trên là không có căn cứ.   

           Hỏi: Tôi chuyển sinh hoạt đảng ra khỏi công ty năm 2011 và đã nhận hồ sơ đảng viên để chuyển về nơi cư trú. Tuy nhiên, do điều kiện đi làm ăn xa, tôi đã quên nộp hồ sơ đảng viên về nơi cư trú. Hiện nay, tôi trở về công tác tại công ty cũ và muốn được sinh hoạt trở lại nhưng không biết phải như thế nào?

Vậy tôi còn là đảng viên nữa không, nếu còn thì tôi phải làm thế nào để được sinh hoạt trở lại?

Trả lời: Việc đảng viên sau khi làm thủ tục chuyển sinh hoạt đảng nhưng không mang hồ sơ đảng viên đến cấp ủy có thẩm quyền để nộp theo quy định và bỏ sinh hoạt đảng từ năm 2011 cho đến nay thể hiện sự thiếu ý thức phấn đấu, vô tổ chức kỷ luật, không còn đủ tư cách đảng viên. Điều 8, Điều lệ Đảng quy định: “Đảng viên bỏ sinh hoạt chi bộ hoặc không đóng đảng phí 3 tháng trong năm mà không có lý do chính đáng;… thì chi bộ xem xét, đề nghị lên cấp có thẩm quyền xóa tên trong danh sách đảng viên”; Điểm 4.1.1c Mục II Hướng dẫn số 12-HD/BTCTW ngày 17-5-2012 quy định: “Cấp uỷ có thẩm quyền nơi đảng viên chuyển đến xem xét, nếu đảng viên chậm nộp hồ sơ chuyển sinh hoạt đảng quá 3 tháng mà không có lý do chính đáng thì ra quyết định xoá tên đảng viên đó theo thẩm quyền với lý do “tự ý bỏ sinh hoạt Đảng”, đồng thời gửi thông báo việc xoá tên đảng viên tới chi bộ và cấp uỷ cấp trên trực tiếp của chi bộ nơi đảng viên chuyển đi biết”.

Như vậy, trường hợp nêu trên không còn là đảng viên và không được nối lại sinh hoạt đảng.

            Hỏi: Tôi viết lý lịch của người xin vào Đảng gửi lên đảng uỷ xã. Trong thời gian chờ đợi, tôi lên đảng uỷ xã và gặp đồng chí phó bí thư hỏi, được đồng chí trả lời: trong thời hạn 30 ngày mới trả lời. Tôi xin hỏi, đồng chí phó bí thư trả lời như vậy có đúng không? Căn cứ vào văn bản nào để trả lời quần chúng làm hồ sơ xin vào Đảng. Thời hạn trả lời quần chúng làm hồ sơ xin vào Đảng là bao lâu?

Trả lời: - Trường hợp thứ nhất: Nếu hồ sơ của đồng chí đã được chi bộ họp xét và ra nghị quyết đề nghị cấp ủy có thẩm quyền kết nạp vào Đảng thì thời hạn được thực hiện theo quy định tại Điểm 7.4 Quy định số 45-QĐ/TW ngày 1-11-2011 (nay là Điểm 4.3.1 Quy định số 29-QĐ/TW ngày 25-7-2016) của BCH Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng: “Trong thời hạn 60 ngày làm việc kể từ ngày chi bộ có nghị quyết đề nghị kết nạp, cấp uỷ có thẩm quyền phải xem xét, quyết định đồng ý hoặc không đồng ý và thông báo kết quả cho chi bộ, nếu để quá thời hạn trên mà không có lý do chính đáng thì phải kiểm điểm trách nhiệm trước cấp uỷ cấp trên”.

- Trường hợp thứ hai: nếu đồng chí mới viết lý lịch người xin vào Đảng gửi cấp ủy cơ sở để xem xét thì các quy định và hướng dẫn của Trung ương hiện nay không quy định thời gian từ khi viết lý lịch cho đến khi người xin vào Đảng được trả lời. Do đó, đồng chí phó bí thư đảng ủy xã trả lời như trên là không sai với các quy định, hướng dẫn của Trung ương.

           Hỏi: Cha tôi trước đây là đảng viên. Năm 1992, ông đi kinh tế mới ở Đăk Lăk (thời gian này ông và mẹ tôi sống ly thân, đến năm 2002 thì chính thức ly hôn, tôi ở với mẹ từ thời điểm này cho đến khi trưởng thành). Thời gian đi kinh tế mới, ông có xin phép chi bộ và làm hồ sơ chuyển sinh hoạt đảng đến nơi ở mới, tham gia sinh hoạt đảng được một thời gian (khoảng 3-4 tháng) thì chuyển đến nơi khác mà không báo cáo, tự ý bỏ sinh hoạt đảng (đến nay hồ sơ đảng của ông đã bị thất lạc). Như vậy, trường hợp của ông có bị xem là tự ý bỏ sinh hoạt đảng nên bị xoá tên hay là bị khai trừ khỏi Đảng không; tôi có thể phấn đấu vào Đảng mà không bị ảnh hưởng bởi lịch sử chính trị của cha tôi hay không?

Trả lời: Trường hợp đảng viên tự ý bỏ sinh hoạt đảng, chuyển đến nơi ở khác mà không báo cáo hay xin phép chi bộ là thuộc trường hợp bỏ sinh hoạt đảng. Theo quy định tại Điều 8 Điều lệ Đảng và Điểm 8 Quy định số 29-QĐ/TW ngày 25-7-2016 Quy định thi hành Điều lệ Đảng của BCH Trung ương thì trường hợp trên thuộc diện phải xóa tên trong danh sách đảng viên.

Theo các quy định hiện hành của Đảng thì không quy định những người có bố hoặc mẹ bỏ Đảng, bị xóa tên trong danh sách đảng viên thì không được kết nạp vào Đảng. Do vậy, trường hợp quần chúng nêu trên mà phấn đấu tốt, đáp ứng đủ các điều kiện và có nguyện vọng thì vẫn có thể được xem xét, kết nạp vào Đảng.

            Hỏi: Số đảng viên được miễn công tác, miễn sinh hoạt có thời hạn có tính vào tổng số đảng viên của đảng bộ không? Nếu số đảng viên được miễn công tác và sinh hoạt này vẫn đến dự đại hội, hội nghị và cũng có khi đi sinh hoạt chi bộ thì có tính vào tổng số đảng viên để tính kết quả biểu quyết không?

Trả lời:  Điều 32 Quy chế bầu cử trong Đảng quy định: “Đối với đại hội đảng viên: Người trúng cử phải đạt số phiếu bầu quá một nửa so với tổng số đảng viên chính thức của đảng bộ, chi bộ được triệu tập trừ số đảng viên đã được giới thiệu sinh hoạt tạm thời ở đảng bộ khác, đảng viên đã được miễn công tác và sinh hoạt đảng không có mặt ở đại hội (nếu đảng viên đó có mặt ở đại hội, hội nghị đảng viên, tham gia bầu cử, biểu quyết thì vẫn tính), số đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng, bị khởi tố, truy tố, tạm giam, đảng viên chính thức vắng mặt suốt thời gian đại hội có lý do chính đáng được cấp ủy triệu tập đại hội đồng ý”.

Như vậy, đảng viên được miễn công tác, sinh hoạt nếu có mặt ở đại hội hoặc hội nghị đảng viên thì tính vào tổng số đảng viên, nếu không có mặt thì không tính vào tổng số đảng viên được triệu tập khi tính kết quả biểu quyết hay bầu cử.

           Hỏi: Chi bộ tôi có đảng viên A sinh con thứ ba. Tháng 11-2016 chi bộ tổ chức kiểm điểm kỷ luật đảng viên A. Có 2 loại ý kiến:

Thứ nhất, quyết định kỷ luật đảng viên A có hiệu lực thi hành ngay sau khi chi bộ có nghị quyết và ra quyết định.

Thứ hai, quyết định kỷ luật đảng viên A có hiệu lực thi hành từ khi đảng viên A gửi bản tự kiểm điểm.

Xin hỏi, theo các văn bản hướng dẫn hiện nay thì hiệu lực thi hành được quy định như thế nào?

Trả lời: Điểm 6, Điều 39 Điều lệ Đảng quy định: “Kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm có hiệu lực ngay sau khi công bố quyết định”; Điểm 6 Quy định số 30-QĐ/TW ngày 26-7-2016 của BCH Trung ương quy định Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng: “Kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm có hiệu lực ngay sau khi công bố quyết định”.

Cụ thể, tại Điểm 6 Quy định số 30-QĐ/TW ngày 26-7-2016 của BCH Trung ương quy định:

Điểm 6.1: Quyết định khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên vi phạm của chi bộ có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả biểu quyết quyết định kỷ luật. Trong vòng 10 ngày, chi bộ ban hành quyết định kỷ luật trao cho đảng viên bị kỷ luật, báo cáo cấp trên và lưu hồ sơ. Quyết định kỷ luật của chi bộ (trong đảng bộ bộ phận, trong đảng bộ cơ sở) được đóng dấu của đảng ủy cơ sở vào phía trên, góc trái. Đảng ủy cơ sở hoặc cấp ủy cấp trên trực tiếp không phải ra quyết định chuẩn y.

Trường hợp chi bộ chỉ có bí thư chi bộ, nếu bí thư bị xử lý kỷ luật thuộc thẩm quyền của chi bộ thì bí thư chi bộ báo cáo cấp ủy cấp trên trực tiếp để cử đại diện chủ trì hội nghị xem xét, kỷ luật. Sau khi biểu quyết quyết định kỷ luật, chậm nhất 5 ngày, chi bộ báo cáo kết quả để ban hành quyết định kỷ luật”.

Điểm 6.2: Tổ chức đảng có thẩm quyền sau khi ký quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật phải kịp thời công bố (trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức đảng cấp dưới công bố) chậm nhất không quá 15 ngày kể từ ngày ký. Tổ chức đảng cấp dưới được ủy quyền chậm nhất 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định phải công bố quyết định cho tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật hoặc khiếu nại kỷ luật. Nếu quá hạn trên phải báo cáo ngay với cấp có thẩm quyền quyết định.

Điểm 6.4: Đề nghị của cấp dưới về kỷ luật cách chức, khai trừ đối với đảng viên và giải tán đối với tổ chức đảng nếu chưa được tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định và công bố thì đảng viên đó vẫn được sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp ủy, tổ chức đảng đó vẫn được hoạt động”.

Căn cứ vào các quy định nêu trên, nếu đảng viên bị chi bộ quyết định kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo) thì quyết định kỷ luật có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả biểu quyết quyết định kỷ luật; nếu đảng viên bị cấp ủy cấp trên quyết định kỷ luật thì quyết định kỷ luật có hiệu lực ngay sau khi công bố quyết định kỷ luật.

Ban Tổ chức tổng hợp

LÊN ĐẦU TRANG